Vậy là suy đoán của Hai Tình về một bộ tộc hoặc một nền văn minh đã từng tồn tại trong U Minh Hạ đã được chứng thực. Căn cứ theo thành quách cung điện còn sờ sờ trước mặt bọn tôi, những người này tuyệt nhiên không phải là những người mông muội, ăn lông ở lỗ mà họ đã đạt đến trình độ kỹ thuật đáng nể.
Tú Linh lúc này quay sang Sinh, bảo rằng để cô chữa cánh tay cho nó. Bỗng nhiên từ thẳm sâu trong bóng đen của rừng rậm vang lên những âm thanh quỷ dị, lúc nghe như khóc, khi nghe như cười. Những khuôn mặt không có mắt thoắt ẩn thoắt hiện dưới những gốc cây, dự đoán một điềm chẳng lành. Sinh thấy tình hình này nếu dừng tại đây trị thương đã chưa chắc an toàn tuyệt đối vì nếu miễu ập đến nhiều là hỏng. Trong đoàn ai cũng đang mang thương tích, tốt nhất lúc này cứ di chuyển liên tục, thà là bốn người hợp lực đập miễu còn hơn hai người. Nó đã nói thế, anh Hùng và Tú Linh chen vào không được, thế là cả bọn đi tiếp.
Cách cổng chính một đoạn xa, con đường dưới chân chúng tôi đã được lát đá thềm. Hai bên có những tượng lính, voi phục, giáo mác theo thời gian đã mòn đi cả, nhưng thần thái trên tượng không hề suy giảm. Tú Linh nhìn những bức tượng thấy trang phục có phần khác lạ. Văn hóa miền Tây thuở xưa chịu ảnh hưởng Chăm – Khmer với mũ cao, áo chẽn và xà rông, nhưng trên tượng này lại là khôi giáp, chân đi giày, quấn xà cạp. Cô cho rằng nhìn khá giống những vương triều cổ của Ấn Độ.
Anh Hùng bảo, tàn tích này ắt hẳn có liên quan ít nhiều đến Ca Lâu Thành. Anh kể rằng, vào thời Alexander Đại đế, trong quá trình Đông chinh, đã đánh đến Ấn Độ. Trước sự xâm nhập của vương triều mới, cũng là một nền văn minh rực rỡ, người Ấn khi đó là nơi giao thoa văn hóa hết sức mạnh mẽ. Đồng thời, sự cạnh tranh bá quyền là không tránh khỏi. Phía Tây Ấn Độ là các cường quốc như Syria, Ba Tư, họ liên tục xua quân đánh cũng như can thiệp sâu rộng vào nội chính Ấn Độ. Các vương triều trong giai đoạn khủng hoảng dĩ nhiên không thể chạy về phía Tây được, họ chỉ còn cách men theo biển, đến vùng đất mới.
Tại sao họ lại men theo biển? Vì phía Đông trên đất liền lúc này, ngoài bị dãy Hy Mã Lạp Sơn cách trở còn là các thế lực Hung Nô, các vương quốc trong ba mươi sáu nước Tây Vực, vốn dĩ chẳng còn đất đai để mà lấn chiếm được nữa. Ca Lâu Kiên Đà, Quốc vương đầu tiên của Ca Lâu Thành cũng là người của Đế chế Quý Sương, chọn cách lẩn trốn này mà gây dựng nên vương quốc mới. Anh Hùng cho rằng, tuy nơi này có vẻ như cùng gốc gác với những người tạo nên Ca Lâu Thành, nhưng nói là thành tiền tiêu hoặc một đô thị khác của Ca Lâu Thành thì sai hoàn toàn. Có thể nhóm người này và nhóm người tạo nên Ca Lâu Thành cùng đến vùng Cửu Long trong khoảng thời gian không chênh lệch nhau là bao.
Chúng tôi thắp thêm đuốc để sẵn sàng bước vào kiến trúc mười phần là điện thờ cổ mộ này. Cũng phải nhắc lại một chút về nguyên tắc của săn lan đập miễu. Tại sao đi vào chỗ vắng vẻ thường chỉ đốt đuốc chứ không mở đèn pin, mặc dù đèn pin tiện lợi hơn rất nhiều. Ma quỷ khi xuất hiện thường tạo ra những ảo ảnh. Ma hương quỷ khí từ nó khiến chúng ta dễ bị ảo giác. Gặp trường hợp nguy cấp, nguồn sáng duy nhất là ánh đèn, khi ánh đèn bị nó làm tắt, không gian tối đen thì khác nào nạp mạng vô ích? Lửa tuy chuẩn bị tốn chút thời gian, nhưng ánh lửa nóng, người cầm trên tay thấy ánh lửa chập chờn, tự biết có miễu đến. Đuốc của lục lâm đốt bằng vải có ghi chú, pháp lực không cao nhưng cũng đủ để dọa đám miễu, làm chúng không dám liếm tắt. Chưa kể gặp côn trùng hay thú dữ, lửa còn có tác dụng xua đuổi. Cho nên mới nói là cái gì cũng có hai mặt của nó, quan trọng là tùy lúc mà sử dụng.
Đuốc đã chuẩn bị xong, anh Hùng dẫn trước, tôi rồi đến Sinh nối gót theo sau, cuối là Tú Linh. Tội thằng Sinh, tay gãy, bất đắc dĩ thành người tàn phế tạm thời, không vận Chú thoải mái như trước được nên đành đi giữa. Có vẻ như đối với nó, chuyện tay chân thành ra hình thù như thế không có gì mới. Hiện tại cả đoàn đang phải kẹt thế hiểm, di chuyển liên tục, đợi khi nghỉ chân có thời gian nắn lại cũng chưa muộn.
Bước đến gần cổng đá chính khiến tôi không khỏi choáng ngợp. Cánh cổng và cả tường thành kia được xây bằng cách xếp chồng những khối đá to cỡ cái bàn ăn lên với nhau. Giữa những khối đá kẽ hở vô cùng nhỏ, chắc chỉ lách được lưỡi lam vào, đủ để cho thấy trình độ chế tác đá của những người thợ này quả thật không phải hạng xoàng. Các cánh cổng được thiết kế nhìn như tháp Chăm ở miền Trung, đỉnh cổng chia ra làm từ năm đến bảy bậc, mỗi bậc cách nhau bởi các họa tiết khắc chìm hình hoa sen, chim ưng, hổ và trăn rắn gì đó. Những khối đá được đẽo gọt tinh xảo, vuông vắn, kiến trúc hầu như không tổn hại gì sau ngần ấy thời gian càng làm tôi thêm nể phục tay nghề của những con người làm nên quần thể công trình này. Chưa kể vùng U Minh không phải là mỏ đá, để vận chuyển đá về đây vào thời gian đầu công nguyên, dĩ nhiên là một bài toán khó. Đem đá vào đây, xếp chồng lên, rồi thì đục đẽo, tôi tự hỏi làm thế nào và trong bao lâu để có thể hoàn thành tất cả chỗ này?
Thêm nữa là vấn đề nguồn sáng, dưới này làm gì có ánh sáng tự nhiên? Chúng tôi quan sát xung quanh. Không giống như ở Ca Lâu Thành, viên ngọc rết lóe lên từng chớp đỏ, nơi này không gian xung quanh chỉ toàn màu đen đặc, rễ cây quấn từng lớp bên trên, có lẽ ngọc rết không thể ở trên cao rồi. Trên mặt cổng và tường là những bức phù điêu, Tú Linh cho rằng đây là những phù điêu các tích của đạo Hindu. Nếu vậy thì đúng như anh Hùng nói, những người chủ của nơi này có khi lại là một nhánh của người Ấn Độ giống dân Ca Lâu Thành. Tuy nhiên, vùng U Minh Hạ là nơi phát tích ra và rèn luyện nên các bí thuật của lục lâm, vậy nên người nào từng sống ở đây, hẳn là mang trong mình một bí mật to lớn hơn Ca Lâu Thành. Tôi chợt nhớ lại lời Hai Tình, kể về một nhóm người gọi là Cô Chỉ có tục ăn thịt người… Tuy nhiên, tôi hy vọng là không phải họ.
Chúng tôi băng qua cổng thành, tiến vào một khoảng sân rất rộng bên trong, có vẻ như khi xưa nơi đây là quảng trường. Sân rộng gần bằng một sân bóng, bố trí những cái chảo lớn, dùng để đốt lửa mỗi khi tiến hành nghi lễ. Tôi đoán vậy vì xem mấy bộ phim cổ trang thường thấy những cái chảo lửa dùng để thắp sáng có hình dạng tương tự như vầy. Đang xem xét xung quanh bỗng nhiên Tú Linh kêu lên:
– Mọi người, nhìn kìa!
Tôi đưa mắt lên, trước mặt là một kiến trúc đối với tôi rất khó hiểu. Nó có những cây cột đá cao, xếp ngay hàng thẳng lối, đỡ mái đá phía trên có hình tam giác, có vẻ như cũng được điêu khắc rất nhiều họa tiết thần thú gì đấy. Sinh và Tú Linh thì đoán cũng là các tích trong đạo Hindu mà thôi. Tòa điện quá đỗi nguy nga này khiến chúng tôi như chết trân, lý do không phải là vì nó quá âm u ma quái, mà chính xác là thập phần kỳ dị. Kiến trúc này tôi đoán có thể bắt nguồn từ nền văn minh Hy – La, vốn dĩ nằm cách nửa bán cầu so với nơi này. Những cột đá thẳng đứng vẫn dùng đá sa thạch, quét một lớp gì đó màu trắng chỉ còn vết tích chút ít. Có hơn hai mươi bậc thang dẫn lên tòa điện bên trên. Đang đi, Tú Linh lại lần nữa kêu lên, lý do là vì cô đã đoán ra gốc gác của tộc người từng thống trị nơi này!
Trong tất cả các vương triều cổ đại của Ấn Độ, Tú Linh nói rằng chỉ có một vương triều có nét đặc trưng kiến trúc văn hóa pha trộn giữa Hindu và văn minh Hy – La, đó là vương triều Kushan, cũng chính là vương triều xuất thân của Ca Lâu Kiên Đà, Ca Lâu Vương đời thứ nhất. Lý giải cho sự pha trộn này, nói ra thì hơi dài dòng.