Cửu Long Quái Sự Ký – Kỳ 7: Hàng vải đỏ giữa khu rừng tối

Cửu Long Quái Sự Ký – Kỳ 7: Hàng vải đỏ giữa khu rừng tối

Lại nói kỳ trước, khi tôi nhắc đến bức tượng nữ du kích trên đường lên chỗ trọ, tự dưng chú chủ nhà lộ vẻ đăm chiêu.

Lát sau mặt chú cũng đỡ căng thẳng, giãn ra, chú nở nụ cười: 

– À, nhớ rồi, không sao đâu con.

Bỗng nhiên chú đứng dậy, bảo là để tôi tự nhiên nên đi vào trong tụng kinh, dặn tôi trên đây nhiều muỗi, nhớ đi ngủ sớm và tắt đèn, vì vấn đề an ninh trên núi không cho mở đèn khuya.

“Không sao đâu con”

Ý chú nói thế là gì? Tôi suy nghĩ mà không hiểu.

Tôi ăn uống xong xuôi cũng chỉ mới hơn chín giờ. Đi dạo một vòng rồi quay về võng ngủ. Phần vì mệt phần vì ngà say, tôi nằm chỗ lạ nhưng cũng cảm thấy rất thoải mái. Tôi tắt đèn, cả ngọn núi chìm vào màn đêm như hũ nút. Gió nổi ầm ầm, cây quệt vào mái tôn ầm ĩ. Ngoài khoảng sân trống thỉnh thoảng vang lên tiếng “bịch bịch”. Tôi nghĩ là của bọn khỉ núi. Nãy chú chủ nhà cũng bảo khỉ trên đây nhiều lắm.

Sáng hôm sau, tôi thức khá sớm để đi ngắm mặt trời mọc, sẵn tiện tìm cái vách đá. Cảnh tượng thật hùng vĩ với những dãy núi chạy dài. Trời trong vắt, cao thật cao. Xa xa mây giăng như một bức tường thành bằng tuyết trắng tinh. Trên những cành cây, tôi thấy lũ khỉ chuyền qua lại. Khung cảnh đó thật thanh tịnh, như gột rửa tâm hồn mệt mỏi, hữu hiệu, hữu hiệu. Và đúng lúc đó, một thứ trắng tinh đập vào mắt tôi, là cái vách đá hình bán nguyệt! 

Tôi cười lên ha hả. Thì ra nó có thật. Và bà chị tôi cũng không nói dóc. Tôi lấy giấy bút, vẽ lại địa hình, sẵn tiện ghi luôn những cột mốc quan trọng như nhà dân hoặc các cây cột điện. Hình như vách đá nằm trên đường hướng về Trà Sư. Tôi nghĩ bụng ngày còn dài, ghé thăm rừng tràm rồi tìm cái vách sau cũng được. Vậy là lộ trình ngày hôm nay đã có.

Quay vào thu dọn nhanh đồ đạc rồi khởi hành đến điểm tiếp theo cho kịp, tôi đi ngang khoảnh sân gần chỗ nằm ngủ tối qua, ngăn bởi tấm vách tôn hoen gỉ. Chỗ đó nền lót đá thềm. Mỗi viên hình vuông nhìn rất đẹp. Phía trên có ít bùn do cây cỏ mục và nước mưa tạo nên. Nhờ có bùn nên tôi thấy được có vết gì đó như vết giày in bên trên, mà vết giày đó không giống đôi giày nào tôi từng tưởng tượng. Nhiều vết giống vậy lắm, chỉ xuất hiện xung quanh khu vực có bùn đó, kiểu như tối qua có ai đứng ngoài này nhìn tôi ngủ vậy. Mà ai lại chui ra đó đứng vào lúc hai ba giờ đêm chứ, nghĩ đến thôi cũng đủ nổi da gà…

Tôi xuống núi, nhanh chóng lên xe, vỗ về bạn đồng hành thân yêu và nhắm hướng Tịnh Biên, mục đích là ra biên giới chơi. Chạy được một quãng, tôi có cảm giác như mình vừa quên quên một cái gì đó. Hình như lúc leo xuống không thấy bức tượng nữ du kích, như kiểu tôi bỏ quên một tảng đá sặc sỡ mà chỉ có mù mới không thấy vậy, bực lắm. Hay là nó đã chạy đi chỗ khác, tượng có chân mà. Tôi nghĩ rồi cười.

Xe chạy về hướng Tịnh Biên được một quãng nữa, có ngang qua một chùa Khmer khác. Ngoài chùa có một cái tháp. Trên một mặt mà tôi thấy có đắp một bức tượng Phật đang tọa thiền. Tôi nhớ rồi, tôi nhớ tôi gặp bức tượng còn lại ở đâu rồi. Ngày trước khi đi thi đại học, tôi có trọ “ké” một ngôi chùa Khmer. Chính điện nằm trên tầng hai với một cầu thang dẫn thẳng lên đó. Tầng một được bố trí như chỗ đậu xe, khu ăn uống của các sư và ngay đó là bức tượng một vị sư già đang tọa thiền. Tôi rất ấn tượng vì bức tượng được khoác áo cà sa, kiểu như nó đứng dậy, mặc áo vào đầy đủ rồi mới toạ thiền. Tượng làm bằng xi măng, cũng tô khuôn mặt một lớp sơn hồng, ngũ quan vẽ màu đen. Ánh đèn chiếu lên lớp xi măng bóng nhẵn như thoa dầu.

Bức tượng du kích và bức tượng vị sư kia tạo cho tôi cảm giác như chúng giống nhau. Mãi sau này, lúc học đại học rồi, tôi có lui tới chùa đó một vài lần nữa thì mới nghe nói rằng bức tượng đó chính là vị trụ trì chùa trước đây. Khi ông viên tịch thì thân thể không hoại. Người sau cho rằng ông đã hoá Phật, nên đắp xi măng lên thành tượng. Tôi chỉ nghe vậy thôi.

Trời đã gần khuya, quán cà phê dần thưa bớt khách, và câu chuyện về chuyến đi An Giang của tôi cũng sắp đi đến hồi kết. Ông anh tôi ra sức hối thúc tại sợ để mai, câu chuyện bị mất mạch thì tiếc lắm. Gã Hùng Bonsai giờ ngồi dựa lưng vào ghế, hai chân giạng rộng. Cái cằm dài không còn thu vào nữa mà hơi đưa ra, nom có vẻ thoải mái. Tôi nhấp ngụm trà đá cho thanh giọng rồi kể tiếp.

Sau khi xuống núi, tôi cho xe chạy về hướng quốc lộ 61, rẽ vào đường tránh thành phố Châu Đốc, tạt ngang khu bảo tồn thiên nhiên rừng tràm Trà Sư. Thật ra chỗ này tôi đi rồi, nhưng là đi theo tour, ngồi trên xuồng tam bản, đi khoảng một tiếng là hết rừng tràm. Chuyến đó khá là chán nếu không có lũ chim sặc sỡ và lạ mắt bay qua lại hay đang đậu trên tổ. Còn lần này, tôi quyết định sẽ chạy xe máy để xem cảm giác có gì khác không.

Vừa vào rừng tràm, thay vì mua vé tại phòng vé bên tay trái, người muốn chạy xe máy sẽ quẹo phải. Đi qua một con đê nhỏ, quẹo trái thêm lần nữa sẽ thấy con đường sâu hun hút với hai hàng tràm xanh và dài bất tận. Đoạn đường này khá vắng, tôi chạy xe khoảng mười phút mà chỉ gặp chưa tới năm người. Có người dừng lại chụp hình, ăn sáng hoặc chỉ đơn giản là ngắm những thửa ruộng đang vô mùa ngập nước. Tôi cho xe chạy rất chậm. Chợt thấy một lối mòn bên trái, kích cỡ vừa một chiếc xe. 

Đường đất khá khô ráo, hai bên ngập trong lá cây khô, vừa đủ khoảng trống ở giữa cho tôi chạy vào. Cây hai bên đường mòn to gấp mấy lần bình thường, lại thêm tán rộng cho nên chưa được chín giờ mà cứ tưởng trời đã xế chiều. Cây đó tôi chịu, không biết nó tên gì nhưng lá khá giống loại cây hay trồng trên vỉa hè. Hai hàng cây không cao, đầu chúng chụm vào nhau tạo nên một khung cảnh có gì đó ma mị mà lại lãng mạn. Những tia nắng chiếu qua kẽ lá, soi sáng phía dưới, rất lung linh. Con đường này giống cái đê, ngăn giữa một bên là rừng tràm nước phèn và bên kia giống nước kênh dùng tưới tiêu.

Tôi nghĩ con kênh nhỏ như vậy, xuồng tam bản không thể nào vô được. Đây chắc chắn là địa điểm lần tham quan trước tôi chưa từng đi qua. Cảm thấy háo hức, tôi liền cho xe chạy vào. Phải công nhận, đường lót đan vẫn còn phảng phất cái hơi nực của sớm muộn, còn đoạn đường mòn này, vừa bước vào tôi bỗng nhiên cảm thấy mát mẻ ngay lập tức, có khi còn hơi lạnh nữa chứ. Hơi lạnh giống như ai ngậm đá và phà vào cổ bạn vậy.

Về độ rộng lớn và hùng vĩ của rừng tràm này thì khỏi phải bàn. Phải nói là vùng Bảy Núi An Giang này, từ những ngọn núi, ngôi chùa, cảnh đẹp, rồi đến hồ Tà Pạ và… cả vách đá bí ẩn kia nữa, thứ gì cũng làm tôi choáng ngợp.

Càng tiến vào, con đường càng làm cho tôi mang cảm giác như nó sâu hun hút vậy. Tán cây càng lúc càng dày đặc. Lâu lâu một loài chim lạ nào đó bay ngang làm tôi hết sức thích thú. Phía rừng ngập nước là những gốc cây tràm to đến gần cả người ôm, gốc đen sì tua tủa những rễ hay cái gì đó của một cây khác. Nước hơi đen và có bọt váng. Các gốc cây nằm gần nhau, đan xen như một mê cung khổng lồ. Thỉnh thoảng, ẩn hiện sau những gốc cây tràm, tôi thấy có vật gì đấy nổi lên rồi lại chìm xuống, dài hơn mét rưỡi, đen và tròn, như kiểu bong bóng căng lên. Tôi nghĩ một là do cá, không thì cũng con vật nào chết rồi trương lên. Lạ cái là không có mùi hôi. 

Phía rừng bên tay trái tôi, ngăn bởi con kênh nước ngọt, chừng vài chục mét thì có người bên đấy. Chắc là mấy ông bên kiểm lâm. Có lúc họ quay lưng với tôi, có lúc họ lại nhìn theo kiểu tò mò, có cả mấy đứa nhỏ nữa. Mà mấy ông kiểm lâm này ăn mặc khá đa dạng. Sơ vin có, bèo nhèo có. Họ chỉ đứng im đó thôi, kiểu như đứng đã lâu rồi vậy. 

Vừa chạy xe vừa ngắm cảnh, bất chợt tôi phát hiện ra một điểm chung lặp đi lặp lại của khu rừng này. Cứ khoảng bốn năm cái cây lại thấy cột một miếng vải màu đỏ. Sâu trong rừng, thấp thoáng phía sau những miếng vải màu đỏ này là những sợi dây thừng treo lủng lẳng trên cành cây. Vì chạy xe rất chậm nên tôi có thể thấy rõ: những sợi dây thừng này bị cắt ngang chứ không hề đứt một cách tự nhiên. Thấy khá tò mò nhưng cũng không thể lý giải nên tôi chỉ biết nhún vai cho qua, tấp xe vào cái quán cóc làm ly cà phê sáng cái đã.

Quán cóc này có diện tích nhỏ vì nằm trong rừng. Được những cây tràm già nhất bao phủ nên chỉ cần nhìn thôi là đủ biết nó thoáng mát như thế nào. Quán có khoảng năm bộ bàn ghế. Tất cả đều làm từ những thanh gỗ trông khá mục nát, nhưng khi ngồi xuống thì tôi thấy độ rắn chắc không phải tầm thường. Cách chỗ tôi ngồi một bàn, có hai người độ ngoài bốn mươi đang ngồi nhậu. Mồi màng trên bàn đã cạn, chỉ còn chai rượu đế. Hai người họ đang huyên thuyên về chuyện trục vớt gì đó, nhưng vì tôi chưa có miếng cà phê nào trong người nên chỉ nghe chữ được chữ không.

Chủ quán là một bà lão. Không biết bà bao nhiêu tuổi, chỉ thấy nếp nhăn dường như đã chiếm gần hết khuôn mặt. Thị giác của bà, nếu còn tỏ, chắc chỉ thấy thế giới như một đường kẻ. Lưng bà khom gần tới đất, còn giọng nói thì đục như dòng kênh sau căn chòi. Nhận ly cà phê, tôi nói cám ơn nhưng dường như bà không nghe thấy. Tôi đốt điếu thuốc, hớp ngụm cà phê, rít một hơi thật sâu, để cho hương cà phê đi theo dòng khói chạy khắp cơ thể, trở thành loại thuốc tiên của những người chưa tỉnh ngủ. Mà, tôi đã thừa biết hút thuốc lá là có hại cho sức khỏe.

Giờ tôi mới bắt đầu chú ý tới những lời hai người đàn ông kia nói với nhau. Chú lớn tuổi hơn có một nốt ruồi dưới cằm, mặc nhiên trên đó mọc ra những cọng râu trông như dòng thác. Tôi biết chú lớn hơn vì cách xưng hô thôi. Chú còn lại có đôi mắt xếch. Môi dưới khá dày chống đỡ cho cánh mũi cứ phập phồng. Chú lớn tuổi vừa nói, vừa vuốt mấy cọng râu:

– Ta nói, bữa nào lội mương mà không nghe mùi là bữa đó khỏe. Còn gặp như bữa hổm thì thôi thôi…

Chú Nhỏ cự:

– Tại anh hên thôi anh Tám ơi. Bên phía tui tuần này tính ra thôi là ba cái!

– Trên bờ hay dưới mương?

– Trên bờ hai, dưới mương một! Mà ngặt, cái dưới mương hết kéo lên được. Phải lấy chài lôi lên.

– Bị nó níu lại đó, lần đó tao cũng bị, hai cái dưới gốc tràm. Nó lôi vô tới đó luôn mày. Tao gỡ không ra. Tới khi cúng nó mới nhả ra đó!”

_Bởi vậy, thà là cắt mấy cái trên cây xuống nhẹ hơn dữ dằn…

– Đúng thiệt… Mô phật, mô phật!

Nói tới đó, hai người rót rượu đầy ly rồi cùng nhau cạn. Xong rồi mỗi người lại nhìn một hướng, vẻ mặt đăm chiêu thấy rõ.

Tôi thấy vậy cũng không để ý tới họ nữa. Đưa mắt nhìn một vòng, tự nhiên thấy tít ngoài sâu trong khu rừng, đối diện với chòi nước có thứ gì đó đang đong đưa. Nhìn kỹ thì thấy đó là một chiếc võng, dây nhợ thòng xuống cả đất, chắc đã bị thủng. Xung quanh nó là các cây rừng, mật độ cũng khá dày, cỏ không cao lắm nhưng nhìn âm u. 

Chiếc võng này được mắc giữa hai thân cây nhỏ. Dưới đất, lá khô chất đống như đã lâu lắm không ai nằm để phải gạt cỏ ra. Tôi nghĩ chắc là có gió mạnh ngoài kia lắm, vì cái võng bị thổi nghiêng sang một bên. Sau đó dường như gió lặng nên nó lại rơi xuống, đong đưa qua lại. Rồi lại có gió, chiếc võng bị thổi, rồi gió lại tắt. Có nhịp điệu hẳn hoi. Nhìn cũng khá giống với việc có ai đó ngồi lên, lấy trớn, rồi thả ra cho võng lắc lư vậy. Mà cũng giống thật vì phần võng bành ra chứ không xếp lại như khi chẳng ai nằm.

– Chú ơi.

Tôi nghe chất giọng đục ngầu của bà lão nên quay lại.

– Chú từ đâu tới?

– Con ở Sài Gòn ngoại ơi!

Bà cụ bị lãng tai, không nghe rõ tôi nói gì nên nhếch cả mồm lên, làm vẻ mặt nghiêm trọng. Tôi thấy vậy liền hét câu đó thêm lần nữa.

– À, người “Xì Phố” đi du lịch phải chưa. Lâu lâu cũng có dăm ba cô chú đi lạc vô như chú vậy đó!

– Con không có đi lạc ngoại ơi.

Tôi thét lên:

– Mà ngoại cho con hỏi. Cái võng ngoài kia của ai nằm mà rách hết trơn vậy ngoại?

Bà cụ thấy tôi chỉ tay cũng cố gắng hết sức nhướn phần thịt trên chân mày lên nhìn theo, nhưng chắc vô vọng rồi, xa vậy dễ gì thấy, tôi thấy bà ngoài cả người về phía đó luôn, lúc sau thì bà nói: 

– Võng nào? Có kiểm lâm người ta ngủ trên tháp canh mới mắc võng, chứ rừng rú làm gì có võng?

Chắc bà không thấy nên tôi cũng ậm ừ lái qua chuyện khác: 

  • Ngoại ơi, ngoại biết mấy miếng vải đỏ với mấy sợi dây thừng trong rừng không?

Tôi nghĩ bà sống ở đây lâu rồi nên chuyện này chắc kèo là bà sẽ biết.

– Người ta chết trong rừng đó chú.

Bà thả câu nói nhẹ tơn, như thả cái lông gà lông vịt, rồi nói tiếp:

– Dây thừng là người ta treo cổ phải cắt thì mới đưa xuống được. Gỡ không ra. Còn miếng vải đỏ là của mấy ông thầy chùa cột, để siêu thoát. Với lại người nhà cũng biết chỗ mà lại đốt nhang. Thỉnh thoảng cũng có xác chết trôi…

Đột nhiên, bà dừng lại giữa chừng như sực nhớ hay sợ hãi điều gì đó, bà quay ngoắt cổ về sau làm những thớ thịt già nua cong lại, sắp lớp. Tôi nhìn theo hướng đó.

Vì sao bà cụ lại tỏ thái độ như vậy và thực sự tôi đã nhìn thấy những gì? Mời các bạn xem tiếp kỳ sau sẽ rõ.

Art Director Lê Minh
Artist Minh Thảo Võ
Graphic Designer Nhím 
Editor Phạm Vĩnh Lộc

Chia sẻ câu chuyện này
Share