Về sự thành lập của tập đoàn Tào Tháo, La Quán Trung đã mô tả một cách giản lược. Tào Tháo vừa khởi binh, văn thần võ tướng đã tụ họp như mây. Đó là cách nói hết sức sai lầm. Tập đoàn Tào Tháo không phải kiện toàn trong một lúc, mà đã phát triển từ từ. Vậy tập đoàn Tào Tháo lúc ban sơ có diện mạo như thế nào?
Tông tộc nắm quân quyền
Khi so sánh giữa Viên Thiệu và Tào Tháo, mưu sĩ Quách Gia từng nhận xét rằng: “Thiệu ngoài khoan dung trong nghi kỵ, dùng người mà nghi ngờ họ. Những kẻ được bổ nhiệm chỉ là con em thân thích. Công bên ngoài giản dị mà bên trong hiểu rõ then chốt, dùng người không nghi, chỉ cần có tài là được”. Điều này rõ ràng là không đúng với giai đoạn dựng nghiệp của hai nhà Viên, Tào. Dưới trướng Viên Thiệu chẳng có người nào họ Viên. Thuộc hạ văn võ của Viên Thiệu toàn là họ Phùng, họ Tuân, họ Điền, họ Thư, họ Thẩm, họ Quách, họ Tân, họ Nhan, họ Văn, họ Tưởng, v.v.. Phải mãi đến sau này khi chiếm được nhiều châu, Viên Thiệu mới bổ nhiệm Viên Đàm đi Thanh Châu, Cao Cán là cháu ngoại đi Tinh Châu, Viên Hi đi U Châu. Ngược lại, tập đoàn Tào Tháo đã phát triển từ cái gốc là một tập đoàn “con em thân thích”.
Tào Tháo trở thành quân phiệt. Người nắm quân đội là người họ Tào và họ Hạ Hầu. Nói đúng ra, cổ phần tập đoàn Tào Tháo là do nhiều cổ đông họ Tào góp vào.
Minh họa Tào Hồng trong bản in Tam quốc diễn nghĩa thời Thanh
Đầu tiên phải kể đến Tào Hồng. Tào Hồng tự là Tử Liêm, là em họ Tào Tháo. Nhà Tào Hồng cực giàu. Ngụy lược của Ngư Hoạn chép lúc Tào Tháo đã làm Tư không, thường sai các huyện đánh giá tài sản của mọi người. Huyện lệnh huyện Tiêu đánh giá Tào Hồng giàu ngang Tào Tháo. Tháo nói: “Tài sản nhà ta sao bằng Tử Liêm được?”. Sau trận thua ở sông Biện, Tào Hồng trở về huyện Tiêu. Tào Hồng quen thân với Thứ sử Dương Châu là Trần Ôn, nên tự đem hơn ngàn gia binh đi Dương Châu. Tào Hồng mộ được hai ngàn quân ở quận Lư Giang, lại đi sang Đan Dương mộ được mấy ngàn người, bèn dẫn số quân này về Long Kháng hội với Tào Tháo. Ở Long Kháng diễn ra vụ binh biến khiến họ Tào chỉ còn hơn năm trăm quân. Điều này kỳ trước đã có nói tới.
Người thứ hai là Tào Nhân, tự là Tử Hiếu, cũng là em họ Tào Tháo. Ông của Tào Nhân là Tào Bao là anh trai Tào Đằng (ông nội nuôi của Tào Tháo). Tào Nhân từ nhỏ đã thích cưỡi ngựa bắn cung và săn bắn. Lúc nghĩa binh nổi dậy, Tào Nhân cũng ngầm liên kết với bọn thiếu niên, được hơn ngàn người, tung hoành vùng Hoài, Tứ. Sau đó Tào Nhân mới đưa lực lượng đi theo Tào Tháo.
Minh họa Tào Nhân trong bản in Tam quốc diễn nghĩa thời Thanh
Lúc này Tào Tháo chỉ là “hành” Phấn Vũ tướng quân, rồi làm Duyện Châu mục, nên mũ quan của Tào Tháo không nhiều. Người không có quân riêng thì làm Tư mã, người có quân riêng thì làm Biệt bộ Tư mã. Tào Nhân, Hạ Hầu Đôn, Hạ Hầu Uyên đều làm Biệt bộ Tư mã. Đó chính là xương sống của tập đoàn Tào Tháo. Nói cách khác, người được Tào Tháo bổ nhiệm “chỉ là con em thân thích” – giống như cách Quách Gia chụp mũ cho Viên Thiệu, dù Thiệu không làm. Tất nhiên, việc bổ nhiệm con em thân thích này chính là nguyên nhân khiến tập đoàn Tào Tháo có cái lõi ổn định. Ngược lại, Viên Thiệu không có cái lõi con em thân thích đó, cho nên nội bộ liền xảy ra tranh quyền đoạt lợi.
Tào Tháo còn có một nguồn cổ phần thứ ba nữa. Đó là Lý Điển. Lý Điển tự Mạn Thành, người huyện Cự Dã quận Sơn Dương. Lý Điển có một người chú bác là Lý Càn có hùng khí. Lý Càn nắm trong tay mấy ngàn hộ binh khách – tức là thủ hạ có vũ trang, trú ngụ ở huyện Thừa Thị. Họ Lý ở Thừa Thị này có Lý Tiến thực lực đánh bại cả Lữ Bố. Lý Điển cũng dẫn người của mình theo Tào Tháo đánh Khăn Vàng ở Thọ Trương. Nhưng dường như lúc đó Lý Điển không có chức vụ gì cả. Nếu như ông ta là Tào Điển hay Hạ Hầu Điển thì đã cầm chắc chức Biệt bộ Tư mã.
Kẻ sĩ làm phụ tá
Hai họ Tào và Hạ Hầu cho Tào Tháo một bộ sậu tướng lĩnh có chất lượng. Nhưng về mặt học thức thì họ không đủ để gánh vác chính sự. Chính ở mảng này mà Tào Tháo mới bổ nhiệm nhân tài bên ngoài. Để so sánh, Viên Thiệu hoàn toàn dùng nhân tài bên ngoài trong công tác tham mưu cũng như nắm quân quyền. Thư Thụ chính là ví dụ.
Người quan trọng nhất chính là Tuân Úc. Tuân Úc tự là Văn Nhược, người huyện Dĩnh Âm quận Dĩnh Xuyên, là dòng dõi triết gia Tuân Tử. Cha Tuân Úc là Tuân Cổn là quốc tướng nước Tế Nam, chú là Tuân Sảng làm Tư không dưới chính quyền Đổng Trác. Tuân Úc cũng được cử Hiếu liêm, làm chức Thủ Cung lệnh. Đó là chức vụ quản lý giấy, bút, mực, đồ niêm phong giấy tờ và những thứ vật phẩm cần dùng của quan Thượng thư. Nói tóm lại là quản lý văn phòng phẩm. Chức vụ này vốn do hoạn quan đảm nhiệm. Nhưng sau khi hoạn quan bị diệt thì lại bổ nhiệm kẻ sĩ làm chức ấy. Tuân Úc được làm chức này đại khái là lúc Đổng Trác đã vào kinh và bổ nhiệm Tuân Sảng.
Minh họa Tuân Úc trong bản in Tam quốc diễn nghĩa thời Thanh
Mặc dù vậy, Tuân Úc cũng không đi khỏi trào lưu bài bác Đổng Trác của giới kẻ sĩ. Tuân Úc bèn xoay sở để ra làm quan ngoài, nên được bổ làm huyện lệnh Kháng Phụ. Cháu họ của Tuân Úc là Tuân Du thì vẫn ở lại dưới trướng Đổng Trác, và làm mưu chủ trong mấy vụ tiêu diệt Đổng Trác.
Tuân Úc không tới Kháng Phụ nhậm chức, mà chạy thẳng về quê. Tuân Úc nói với phụ lão trong làng: “Dĩnh Xuyên là đất tranh chiến bốn mặt. Thiên hạ có biến thì thường bị quân lính tàn phá, nên bỏ đi ngay, không nên ở lâu”. Người ở trong làng không muốn bỏ đi, vì đi thì đi đâu. Riêng nhà họ Tuân được Ký Châu mục Hàn Phức sai kỵ binh tới đón. Tuân Úc bèn đưa tông tộc đi Ký Châu. Về sau Đổng Trác sai Lý Quyết, Quách Dĩ đưa quân đánh tới Dĩnh Xuyên, nhà họ Tuân thoát được cảnh tàn phá.
Tiểu sử Tuân Úc trong Tam quốc chí nói rằng Tuân Úc tới nơi thì Hàn Phức đã nhường Ký Châu cho Viên Thiệu. Thiệu đãi Tuân Úc bằng lễ tân khách, còn em trai Tuân Úc là Tuân Kham được bổ nhiệm. Điều này dường như không đúng. Tuân Kham chính là người đi thuyết Hàn Phức nhường Ký Châu. Dường như Tuân Úc muốn che giấu quá khứ dính dấp của mình với Viên Thiệu mà thôi.
Theo phát biểu chính thức của Tam quốc chí, Tuân Úc đoán Viên Thiệu không thể làm nên đại nghiệp, bèn bỏ sang Đông quận tìm Tào Tháo. Hậu Hán thư nói rằng: “Úc có tính toán rõ ràng, thấy Hán thất sụp đổ rối loạn, thường nghĩ đến cái nghĩa khuông phò. Bấy giờ Tào Tháo ở Đông quận. Úc nghe nói Tháo có hùng lược, mà tính rằng Thiệu rốt cuộc không thể định được đại nghiệp. Năm Sơ Bình thứ hai, bèn bỏ Thiệu theo Tháo”. Năm Sơ Bình thứ hai chính là năm Tào Tháo rời chỗ Viên Thiệu đi Đông quận nhậm chức. Nói bỏ Thiệu, e rằng chính là cùng bộ sậu của Tào Tháo đi nhậm chức ở Đông quận mới đúng. Lúc này mũ quan của Tào Tháo không nhiều, nên chỉ cho Tuân Úc được chức Tư mã.
Tuân Úc đóng vai trò mưu sĩ, đồng thời là cầu nối cho Tào Tháo với giới kẻ sĩ. Tào Tháo đánh giá Tuân Úc là Tử Phòng của mình. Tử Phòng là tên tự của mưu thần Trương Lương dưới trướng Hán Cao Tổ. Tuân Úc còn là cầu nối cho Tào Tháo với giới kẻ sĩ trong thiên hạ.
Minh họa Mao Giới trong bản in Samkok năm 1892
Dù đánh giá cao Tuân Úc, nhưng người đề ra sách lược tranh thiên hạ cho Tào Tháo lại là một người khác. Đó là Mao Giới. Mao Giới tự Hiếu Tiên, người huyện Bình Khâu quận Trần Lưu, lúc nhỏ làm huyện lại, nổi tiếng vì trong sạch và công bằng. Lúc quân Quan Đông nổi dậy, Mao Giới định tới Kinh Châu lánh nạn. Nhưng nghe nói Lưu Biểu chính lệnh không rõ ràng, Mao Giới bèn trú lại huyện Lỗ Dương. Tào Tháo làm Duyện Châu mục, bèn gọi Mao Giới về làm Trị trung tòng sự.
Mao Giới nói với Tào Tháo: “Ngày nay thiên hạ tan lở, quốc chủ di dời, sinh dân bỏ nghiệp, đói kém lưu vong, kho công không có tích trữ qua năm, trăm họ không có cái chí yên ổn, khó thể giữ lâu. Nay Viên Thiệu, Lưu Biểu tuy sĩ dân đông mạnh, nhưng đều không có suy nghĩ sâu xa, chưa có ai xây nền dựng gốc. Phàm binh có nghĩa thì thắng, giữ địa vị bằng tiền tài. Nên phụng thiên tự để ra lệnh cho kẻ không thần phục. Sửa sang việc cấy trồng, tích lũy vật tư quân đội. Như thế thì nghiệp bá vương có thể thành”.
Tào Tháo thu nhận chiến lược này, nên chuyển cho Mao Giới làm Công tào trong mạc phủ của mình. Thời Hán, Công tào là chức vụ phụ tá cho Thái thú các quận, chủ quản việc đề bạt người có công. Mao Giới không phải là Công tào của quận, mà là Công tào trong mạc phủ của Tào Tháo. Về sau Mao Giới sẽ trở thành Đông tào duyện – nắm giữ việc bổ nhiệm kẻ sĩ cho tập đoàn Tào Tháo.
Tào Tháo chiêu hiền. Bản in Tam quốc diễn nghĩa năm 1605
Ngoài Tuân Úc và Mao Giới, trong thời kỳ này, Tào Tháo còn có mấy kẻ sĩ quan trọng trợ giúp. Lúc khởi binh đánh Đổng Trác, Tào Tháo còn thu dùng hai người Nhâm Tuấn và Tảo Chi. Nhâm Tuấn theo Tào Tháo lúc Tháo tiến quân vào Trần Lưu. Vì Nhâm Tuấn không đi một mình mà còn đem theo mấy trăm tông tộc và tân khách, Tào Tháo đãi ngộ rất hậu, còn đem em gái họ của mình gả cho Tuấn. Khi Tào Tháo vào Duyện Châu, lại cho triệu gọi Trình Dục ra, bổ làm huyện lệnh Thọ Trương. Tuân Úc thì tiến cử Hí Chí Tài để làm mưu sĩ cho Tào Tháo. Những người này về sau đều là trụ cột để chống đỡ cho tập đoàn Tào Tháo trong cơn nguy cấp.
Chiến lược tranh thiên hạ của Mao Giới bao gồm hai yếu tố cơ bản: chính trị và tài chính. Về chính trị, Mao Giới đề xuất “phụng thiên tử để ra lệnh cho kẻ không thần phục”, lấy đó làm ưu thế cho hoạt động quân sự (binh có nghĩa thì thắng). Về tài chính, Mao Giới đề xuất chấn hưng nông nghiệp và tích trữ vật tư quân sự, lấy đó làm vốn liếng (giữ địa vị bằng tiền tài). Cả hai chính sách này về sau trở thành trụ cột giúp tập đoàn Tào Tháo vững như bàn thạch. Nhưng vào lúc này, Tào Tháo vẫn chưa thực thi bất kỳ chính sách nào trong số đó. Vậy Tào Tháo định làm gì?