Thuỷ chiến giai đoạn đầu tự chủ (880 – 1010)

Tác giả Phach Ho Nguyen
Thuỷ chiến giai đoạn đầu tự chủ (880 – 1010)

Thời đầu tự chủ là giai đoạn khi ta thoát dần thời Bắc thuộc, chuyển sang các triều đại nối tiếp nhau cai trị đất Việt. Ở đây, ta hiểu rằng là từ thời họ Khúc, kéo tới Ngô, Đinh, và Tiền Lê. 

A. Tần suất xuất hiện dày đặc:

Đây là điều đáng chú ý nhất, khi thuỷ chiến trong giai đoạn này được đề cập còn nhiều hơn cả bộ chiến. Nó cho thấy thuỷ chiến là một đề tài đặc biệt quan trọng của thời đầu tự chủ (880 – 1010). Đây không phải là điều gì xa lạ với một quốc gia xem trận thuỷ chiến Bạch Đằng là biểu tượng chống ngoại xâm. 

Tuy nhiên, nó một lần nữa là lời khuyến cáo rằng, miêu tả về chiến trận ở nước ta thời phong kiến, tuyệt đối không thể phớt lờ thuỷ chiến. Tần suất tham gia của chiến thuyền nhiều đến mức nó gần như được xem là biểu tượng chiến tranh. Điển hình là sự kiện vua Lê Hoàn tuyên chiến với Champa năm 982 cũng được thể hiện bằng chi tiết “đóng chiến thuyền”.

B. Chủng loại chiến thuyền:

Theo các ghi chép tản mạn kể trên, chúng ta cũng biết thời đại đó người Việt sử dụng ít nhất hai loại chiến thuyền là thuyền nhẹ và lâu thuyền. Cho đến nay, trừ hình ảnh trên cửu đỉnh thời Nguyễn ra, không thể xác định kiểu dáng lâu thuyền của nước ta trong các giai đoạn phong kiến trước đó trông như thế nào. Tuy nhiên, chúng ta có một số ghi chép về một loại thuyền tiêu chuẩn rất có khả năng chính là loại thuyền nhẹ được nhắc đến trong trận Bạch Đằng năm 938. Đó là loại thuyền được quan đô hộ Trương Chu cho đóng ở nước ta vào năm 808 – tức chỉ khoảng 70 năm trước giai đoạn đầu tự chủ – để phòng chống giặc ngoài. Toàn Thư miêu tả sự kiện này cũng như kiểu dáng loại thuyền trên như sau:

…đóng 300 chiếc thuyền dài, mỗi chiếc có 25 người chiến thủ, 23 tay chèo, thuyền chèo ngược xuôi, đi nhanh như gió

Sách An Nam chí lược của Lê Tắc đời Trần cũng ghi chép về sự kiện Trương Chu đóng thuyền, nhưng có thêm một số thông tin. Theo Lê Tắc, loại thuyền này gọi là ông đồng, mỗi thuyền có trang bị 2 cây nỏ bắn xe (nỏ lớn).

C. Cách thức sử dụng chiến thuyền:

Các sử liệu nêu trên còn cho chúng ta biết rằng, ngoài việc sử dụng để chiến đấu với tàu chiến địch, người thời đó còn sử dụng chiến thuyền theo ít nhất 4 cách khác nhau:

– Cách thứ nhất: dùng thuyền để nhử quân địch, như được thể hiện trong trận Bạch Đằng năm 938. 

– Cách thứ hai: Sử dụng lâu thuyền để thám thính, quan sát tình hình chiến sự trên đất liền. Điều này được Đại Việt sử lược mô tả trong sự kiện Ngô Xương Văn bị ám sát năm 965. Sự kiện này gián tiếp cho ta biết lâu thuyền thời đó có một độ cao tương đối, nên có thể thuận tiện sử dụng cho việc quan sát, nhưng cũng không quá cao, khiến người quan sát phải cho thuyền chèo vào gần bờ, tạo cơ hội tốt cho những kẻ ám sát. 

– Cách thứ ba: sử dụng lâu thuyền như những “tháp pháo”, bằng cách cho quân cung nỏ đứng trên lâu thuyền bắn vào đối phương. Cách này được thể hiện qua sự kiện năm 1001, khi Lê Hoàn cho quân trên lâu thuyền bắn vào kẻ địch ở trên bờ.

– Cách thức cuối cùng, cũng là cách được nhắc đến nhiều nhất: sử dụng thuyền để hành quân. Cách thức này được đề cập xuyên suốt lịch sử phong kiến Việt Nam nói chung, và sự kiện năm 965 của giai đoạn này nói riêng, qua chi tiết quân của Ngô Xương Văn “đỗ thuyền lên bộ đánh”. Ngoài ra, việc sử dụng thuyền để hành quân còn được đề cập gián tiếp qua hoạt động đào kênh, mà riêng thời đại này đã được nhắc đến qua ba sự kiện thời Tiền Lê như sau:

Năm 983: “Khi vua đi đánh Chiêm Thành, qua núi Đồng Cổ đến sông Bà Hòa, đường núi hiểm trở khó đi, người ngựa mỏi mệt, đường biển thì sóng to khó đi lại, bèn sai người đào kênh. Đến đây đào xong, thuyền bè đi lại đều được thuận tiện”.

Năm 1003: “Vua đi Hoan Châu, vét kênh Đa Cái (cho Thông) thẳng đến Tư Củng trường ở Ám Châu”.

Năm 1009: “Bọn Ngô đô đốc, Kiểu hành hiến dâng biểu xin đào kênh, đắp đường và dựng cột bia ở Ái Châu. Vua xuống chiếu cho lấy quân và dân ở châu ấy đào đắp…”.

D. Các chiến thuật được đương thời sử dụng để chống lại chiến thuyền:

Điều đáng chú ý thứ tư, là các sự kiện kể trên cũng đề cập đến ít nhất 4 cách thức chiến đấu chống lại chiến thuyền.

– Cách thứ nhất, thể hiện qua trận Bạch Đằng năm 938, là đóng cọc ở lòng sông, rồi dụ thuyền địch vào đó, nhân thuỷ triều rút, địch mắc cạn mà tiêu diệt.

– Cách thứ hai, thể hiện qua sự kiện Lê Hoàn đánh bại thuỷ quân của Đinh Điền, Nguyễn Bặc năm 979. Đó là sử dụng hướng gió để dùng kế hoả công, đốt thuyền địch. Khác với cách đầu tiên yêu cầu người sử dụng phải hiểu rõ đặc điểm thuỷ triều của con sông, cách thứ hai này yêu cầu việc nắm vững ngày giờ và hướng gió thì mới thực hiện được.

– Cách thứ ba, được ám chỉ trong chiến thắng của quân Tống trong giai đoạn đầu xâm lược nước ta (chiếm 200 thuyền và hàng vạn giáp trụ), đó là xua quân xông qua thuyền địch, hòng tiêu diệt hết quân địch rồi cướp quyền điều khiển con thuyền. Cách thức này ắt hẳn rất phức tạp trong thực tế, nhưng đáng tiếc là chúng ta không có những ghi chép cụ thể hơn.

– Cách cuối cùng, là nhử thuyền địch vào ổ phục kích rồi sử dụng cung tên để tiêu diệt binh lính trên thuyền. Cách này được thể hiện qua sự kiện năm 1001, khi giặc Cử Long bày bộ binh 2 bên bờ, kẹp thuỷ quân của Lê Hoàn vào giữa rồi dùng mưa tên để tiêu diệt. Chi tiết Vệ Vương Đinh Toàn trúng tên chết cho thấy quân Tiền Lê trong trận này thiệt hại không ít, dù cuối cùng vẫn đánh lui được giặc.

Tác Giả Phach Ho Nguyen
Thiết Kế Trần Văn Hậu

Sơn hà bị rạch đôi. Trịnh và Nguyễn mỗi bên giữ một mảnh non sông. Trong cuộc chiến nhằm nhất thống thiên hạ này, bạn sẽ chọn ai làm chân chúa?

Chia sẻ câu chuyện này
Share