– Bảo vệ riêng tư cá nhân khá tốt. – Tôi hài lòng đưa ra đánh giá.
Khán giả càng lúc càng đông. Mọi người tìm đến vị trí của riêng mình, tụm ba tụm bảy trò chuyện. Đám đông trở nên ồn ào náo nhiệt, khán đài vốn tối đen như mực nay đã được vô số cánh hoa bỉ ngạn đốt thành một vùng đỏ rực, nơi nơi thấp thoáng đủ mọi dáng người lay động, vừa ma mị lại vừa thần bí.
Khi đồng hồ điểm đến 0 giờ, một tiếng chiêng đồng bỗng ngân vang, bầu không khí của cả nhà hát dường như lắng đọng lại. Không gian trên cao của trung tâm nhà hát tựa như một bức màn đen bị vén lên, để lộ ra mặt chiêng đồng tròn vành vạnh. Cái chiêng rất to, nhìn lại chẳng mới, mặt trên bám đầy vết ố của thời gian, tựa như đã được sử dụng liên tục mấy trăm năm. Tôi nghi hoặc nhìn một vòng. Trông nhà hát này không có vẻ nghèo đói tí nào, ngược lại còn rất bề thế sang trọng, vì sao chưa chịu thay mới chiêng đồng hoặc mang đi bảo dưỡng?
– Chị ơi, ông ngoại kìa, mười ông ngoại kìa! – Tuy rằng Cục Vàng nén giọng không dám hô to nhưng tôi vẫn có thể nghe thấy rõ ràng.
Bụng tôi thót một cái, nheo mắt nhìn kỹ lại mới thấy hoa văn khắc trên mặt chiêng lại là mười vị Diêm Vương! Không lẽ thứ này là chiêng Tịnh Độ?
– Ồ. Xem ra nhà hát này có lai lịch không nhỏ đây. – Trọng Phu liếc nhìn tôi, cười mát rượi như gió xuân. – Mà vừa nãy tôi vừa nghe thấy gì ấy nhỉ? Ông ngoại? Cục Vàng à, em vừa gọi chư vị Diêm Vương là ông ngoại đúng không?
Gió xuân cũng không ấm áp mấy đâu, vẫn còn buốt giá lắm. Nhìn mà xem, gió thổi khiến tôi suýt thì đóng băng mất rồi.
– Đú…! – Cục Vàng vừa hé miệng cá chưa kịp trả lời, tôi đã vội bịt mồm thằng bé lại.
– Cục Vàng yêu mến mười vị Diêm Vương lắm, cho nên thằng bé thường lén tự nhận mình là cháu ngoại của các ngài, một cách biểu đạt tình cảm á. Bé Thương cũng giống vậy, đúng không hai đứa?
Trước ánh mắt “tha thiết” của tôi, hai đứa nhỏ sợ run, gật đầu lia lịa. Cục Vàng giờ mới biết mình nói lỡ, gắng gượng che giấu.
– Đúng, đúng, đúng, em thích các ông, à, các ngài lắm! Cho nên em ước gì mình là cháu ngoại ruột của các ngài. Công lao của các ngài dành cho Âm phủ to lớn như… như Hoàng Tuyền, cá vô cùng biết ơn… – Có cố gắng sửa sai, nhưng không mấy hiệu quả.
– Thế sao? – Trọng Phu nhướng mày nhìn cá nóc, cười nhạt.
May mắn thay, âm nhạc nổi lên cứu vớt hai kẻ đáng thương là tôi và Cục Vàng. Trọng Phu hơi nghiêng đầu ý bảo chấm dứt câu chuyện, tập trung về phía sân khấu. Hai chị em tôi đồng thời thở phào nhẹ nhõm, cuối cùng cũng sống sót qua kiếp nạn. Tôi điều chỉnh lại dáng ngồi, gãi gãi vành tai, đáy lòng bồn chồn, tự nhủ rằng nếu Trọng Phu cứ nhạy bén như thế này thì tôi sợ mình không giữ bí mật được lâu hơn nữa mất. Hôm nào rảnh rỗi, tôi nhất định phải tìm ngài Ứng Nghiệp để cầu cứu ngay.
Một hồi trống dồn dập kéo hồn tôi về lại thực tại, sân khấu hiện ra ngay phía dưới chiêng đồng. Trong ánh đèn vàng nến đỏ rực sáng lung linh, nước từ bốn phía dâng lên, không rõ nông sâu thế nào. Giữa muôn ngọn đèn hoa trôi nổi dập dềnh, sân khấu bằng gỗ nhô cao khỏi mặt nước, nương vào ánh sáng của nến cùng đèn mà soi bóng nghiêng nghiêng, vẽ ra bầu không khí thanh tao nhã nhặn. Sáu vị nhạc công mang theo sáu loại nhạc khí ngồi ngay ngắn trên sân khấu, người chơi trống vừa dứt âm dày nặng, năm vị khác ngay lập tức nâng tay. Âm nhạc réo rắt vang ra bốn phía, vừa thánh thót nhẹ nhàng vừa tinh tế mềm mại khiến hồn người lâng lâng xuôi theo nhịp điệu của Thập thủ liên hoàn.[1]
Nhà hát trung tâm không phải chỉ có một mình ca nương Hoài Hận biểu diễn. Màn trình diễn của nàng ca sĩ ấy chỉ là một trong những tiết mục của đêm nay mà thôi. Có chăng giữa rất nhiều tiết mục với nhiều loại hình muôn màu muôn vẻ, mọi người mong chờ nhất vẫn là ca nương Hoài Hận, bởi vậy mà nó được xếp tới tận thời khắc cuối cùng, xem như tiêu điểm.
Mong đợi là thế, phía khán đài lại không có ai phàn nàn quấy rối hay la hét thúc giục. “Âm nhạc tịnh trần hòa kỳ tâm dĩ dưỡng kỳ chí. Nghiên xuy tề hiến thủ kỳ thị nhi giới kỳ phi”[2]. Ông cha mình dạy quả không sai. Tôi thả lỏng cơ thể ngả nằm trên ghế hoa, nhắm hờ đôi mắt cảm nhận quá trình lắng đọng của tâm hồn, thầm nghĩ sau này nếu rảnh phải đến đây thêm vài lần. Tôi quá ưa thích cái không khí tuyệt vời này!
Cứ thế, thời gian trôi nhanh khiến ma không theo kịp, tôi nghe còn chưa đã thèm, lỗ tai đã bị tiếng hoan hô ầm ầm chấn động. Tôi xoa nhẹ thái dương, mở mắt xem thử chuyện gì vừa xảy ra, bên tai đã vang lên tiếng hò hét kích động của Cục Vàng:
– Chị ơi, ca nương Hoài Hận xuất hiện rồi kìa! Cổ đẹp quá trời, đẹp ú òa luôn!
Là một người nổi tiếng, hình ảnh của cô ca sĩ xuất hiện ở khắp mọi ngõ ngách của Vong Đô. Mấy năm nay, biết bao nhiêu lần tôi đã nhìn thấy chân dung của cô ta, nhưng thú thật một điều, gặp tận mắt rồi mới biết người thật còn đẹp hơn hình ảnh gấp mấy lần. Người tựa như tên, ca nương Hoài Hận mang theo một nét u buồn hoài cổ. Người đàn bà bận áo dài gấm đỏ, đầu đội mấn cùng màu, cổ đeo kiềng chạm hoa. Ngồi trên chiếc chiếu cạp điều, cô dùng cỗ phách dẫn lối cho mình nhả chữ, buông câu, nỉ non như tiếng mưa rơi chạm nóc nhà; lại cùng người nghệ sĩ ôm đàn đáy tỉ tê tâm tình, có vần có nhịp, tới lui da diết. Mỗi lúc tiếng cao réo rắt cùng tiếng trầm nền nã ấy nhận được trống thưởng của quan viên cầm chầu, cũng là lúc lòng người bật lên câu tán tụng, đồng thời thỏa mãn vô cùng.
Không ngờ một con ma nông dân là tôi đây còn có một ngày được đắm chìm trong bầu không khí tao nhã, lịch thiệp như thế này. Tự nhiên tôi thấy mình tràn đầy vẻ đẹp tri thức, sắp trở thành người đẹp mong manh tựa như Thúy Kiều rồi, cảm động muốn khóc!